Phong Cach PRO
IndexIndex    Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
CHÀO MỪNGBẠN ĐÃ GHÉ THĂM CỘNG ĐỒNG GAME VIỆTHTTP://ÇBA4.US.TO CHÚC BẠN VUI VẼTHẾ GIỚI CŨA LŨ QUỸ

Share | 
Những pài văn phân tích "Vội Vàng"Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
31/1/2010, 14:31

Thành viên PC

Barack Obama

»~åd¶v¶Îñ~»
 »~åd¶v¶Îñ~»
Tổng số bài gửi : 161
Danh tiếng : 0
gia nhập : 23/11/2009
VNĐ VNĐ : 128287
Đồ khủng

Bài gửi Tiêu đề: Những pài văn phân tích "Vội Vàng"

Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, đã có nhận
xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài
người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” .
Đã hơn hai mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng “tấm
lòng trần gian” của ông dường như vẫn còn ở lại. Cứ mỗi lần xuân tới,
những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm
xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ
Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn
mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu kì!

Làm thơ xuân vốn là
một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều
mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam
1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc
của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc
mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùaxuân là cả một mùa xanh…”.
Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân
tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là lời tâm tình với
mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống.

Cái động
thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái của Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay
từ hồi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã thấy “Xuân Diệu say đắm
tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuốn quýt”. Cho nên,
đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tên Vội vàng, hẳn đó phải là
một cách tự bạch, tự họa của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu
mình.

Thực ra, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu
bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người,
về cái chết như là một kết cục không tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một
hạnh phúc lớn lao diệu kỳ. Mà sống là phải tận hiến và tận hưởng! Đời
người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế
nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức
ấy luôn giục giã, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết
học ấy.

Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần
nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” đi cùng chính
luận. Ấy thế nhưng nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại
không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên là loại
thơ xúc cảm. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy rằng thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính
luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống
động như mây trôi, nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như
yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cái tứ của thi
phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng
cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột cuốn theo bao hình
ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một
bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ
sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh họa cho triết học. Mà đó
chính là minh triết của một hồn thơ.

Mục đích lập thuyết, dạng
thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài
nhưng tự nó hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa
hai phần đặt vào ba chữ “Ta muốn ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái
lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ cái hành động vội
vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều
rất dễ thấy là thi sĩ chọn cách xưng hô cho từng phần. Ở trên, xưng
“tôi”, lập thuyết đối thoại với đồng loại. Ở dưới, xưng “ta”, đối diện
với sự sống. Phần luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng
bột, giọng thơ dào dạt, sôi nổi đã xóa mọi cách ngăn, khiến thi phẩm
vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.

Mở
đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ.
Ấy là cái ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên – một ước muốn không
thể:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn
buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Muốn “tắt nắng”, muốn
“buộc gió”, thật là những ham muốn kỳ dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao
cưỡng được quy luật, làm sao có thể vĩnh viễn hóa được những thứ vốn
ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta
một lòng yêu bồng bột vô bờ đối với cái thế giới thắm sắc đượm hương
này.

Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng.
Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của
trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham
muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái
thiên đường sắc hương đó hiện ra trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn
tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực
đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy đắm say. Xuân Diệu cũng
hưởng thụ theo một cách riêng. Ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ
ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.

Hãy
xem cách diễn tả vồ vập về thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên
rạo rực xuân tình:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này
đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của
yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi
sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi
gần;

Có lẽ trước Xuân Diệu trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân tình
tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn non tơ đầy
một sức sống thanh tân kia mà sao quyến rũ – tháng giêng mang trong nó
sức quyến rũ không thể cưỡng được của một người tình rạo rực, đắm say.

Hai
mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái logic luận lí ngầm
của nó. Thi sĩ muốn “tắt nắng”, “buộc gió” chính vì muốn giữ mãi hương
sắc cho trần thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là cái vẻ
đẹp, cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân
lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã
hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì đối với sự
sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy
nhất, “ngon” nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được
cái “ngon” kia khi còn trẻ thôi. Mà cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời
gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có
được cái quan niệm này:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân
còn no nghĩa là xuân sẽ già.

Con người thời trung đại hình như
yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn với cái chu kỳ bốn mùa, cũng
như cái chu kì ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp người. Con người hiện đại
sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà
mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng
nhiệt phủ định:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi
trẻ chẳng hai lần thắm lại !

Thước đo thời gian của thi sĩ là
tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn !

Trong
cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con
người thật là ngắn ngủi, hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người,
Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:

Còn trời đất,
nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;


đem đến một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian và không gian:

Mùi
tháng năm đền rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn
biệt…

Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao”
của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về
cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm nhận bằng
khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương
– chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn buộc gió lại ư? Một chữ “rớm” cho thấy
khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ.
Chữ “vị” liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và
đây là một vị hoàn toàn phi vật chất: “vị chia phôi” ! Thì ra chữ “rớm”
và chữ “vị” này đều từ một hình ảnh ẩn hiện là giọt lệ chia phôi đó. Vì
sao thời gian lại mang cái hương vị - hình thể của chia phôi? Ấy là
những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản
của phép “tương giao”? Cái tinh tế của Xuân Diệu chính là ở đấy ! Thi sĩ
cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở
thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc
đều đang diễn ra một cuộc chia tay của thời gian với con người, với
không gian và với cả chính thời gian. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời
than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than vĩnh viễn: than thầm
tiễn biệt. Không gian đang tiễn biệt thời gian ! Và thời gian trôi đi sẽ
khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kỳ này bước vào độ tàn phai.
Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi !

Thế đấy, không thể
buộc gió, không thể tắt nắng, cũng không thể cầm giữ được thời gian, thì
chỉ có cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, là phải tranh thủ
sống:

Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi ! Mùa
chưa ngả chiều hôm

Đến đây phần luận giải của tuyên ngôn vội
vàng đã đủ đầy luận lý !

Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc
mãnh liệt, bằng những tham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt , vồ vập. Đó là
cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể
diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát
sống sung mãn của mình:

Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn
mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với
tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây,
và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho
no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi
!

Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi bồng bột của
Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể
nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong
đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làm sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao
thoa và song song vỗ vào tâm hồn người đọc. Cái điệp ngữ “ta muốn” được
lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi
lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ,
mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói câu thơ
“Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với thư pháp trung
đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với thơ xưa, đó sẽ là
câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ “và” đến thế ? Vậy mà, đó
lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và” hiện diện
cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi
sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là
thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham lam đang trào
lên mãnh liệt trong lòng ngực yêu đời của thi sĩ !

Câu thơ:

Cho
chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của
thời tươi;

cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ
“cho” điệp lại với mức độ tăng tiến nhấn mạnh các động thái hưởng thụ
thỏa thuê: chuếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng dâng
cao, càng vỗ mạnh, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:

Hỡi xuân hồng, ta
muốn cắn vào ngươi !

Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhụy
đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong
cuộc tình chuếnh choáng men say.

Có thể nói Xuân Diệu qua bài thơ
này không chỉ "sống" hay "ham sống" mà ông "say sống". Sống mãnh liệt,
hối hả kẻo nữa lại tiếc nuối - Đó là một nhân sinh quan lành mạnh. Nó
khác với sự nguội lạnh, hờ hững, lạt lẽo. Bài thơ là nhịp đập gấp gáp
trước "thanh sắc trần gian" một ngày xuân của một trái tim chưa bao giờ
chán sống.
Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội
vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và
hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Ta hiểu vì sao
khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ !

«~coppy đường link này gửi đến bạn bè để ũng hộ diễn đàn~»
http://cba4.us.to/t200-topic



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
31/1/2010, 14:32

Thành viên PC

Barack Obama

»~åd¶v¶Îñ~»
 »~åd¶v¶Îñ~»
Tổng số bài gửi : 161
Danh tiếng : 0
gia nhập : 23/11/2009
VNĐ VNĐ : 128287
Đồ khủng

Bài gửi Tiêu đề: Re: Những pài văn phân tích "Vội Vàng"

1. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

- Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa “đồng nội xanh rì”, của lá
“cành tơ phơ phất”; “Tuần tháng mật” của ong bướm. “Khúc tình si” của
yến anh. “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”. Chữ “này đây” được 5 lần
nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh
đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải vội vàng “tắt nắng đi” và “buộc gió
lại”. Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn.

- Tuổi trẻ rất đẹp rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất
của một ngày, đó là lúc “Thần Vui hằng gõ cửa”. Tháng giêng là tháng
khởi đầu của mùa xuân, “ngon như một cặp môi gần”. Một chữ “ngon” chuyển
đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Chiếc môi
ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay nhất mới nhất
cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng
nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu.

Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20
tuổi - cái tuổi thanh xuân bừng sáng, nhưng thi sĩ đã “vội vàng một nửa” - cách nói rất thơ - chẳng cần
đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm
giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có. Như một tuyên ngôn về “vội
vàng”:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần,
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.

Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống
quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã “vội vàng
một nửa”… Cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất
hồn nhiên, mới mẻ.

2. Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm.

- Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng
ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua
cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại. Xuân
Diệu cũng có một cách nói rất riêng của nhà thơ: tương phản đối lập để
chỉ ra một đời người chỉ có một tuổi xuân; tuổi trẻ một đi không trở
lại.

“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng đời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”

Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương
phản đối lập: tới-qua, non-già, hết-mất, rộng-chật, tuần hoàn-bất phục
hoàn, vô hạn-hữu hạn - để khẳng định một chân lý - triết lý: tuổi xuân
một đi không trở lại. Phải quý tuổi xuân.

- Cách nhìn nhận về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo, nhạy cảm. Trong
hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và tương lai; cái đang có lại đang mất
dần đi…

Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo
nỗi buồn “chia phôi” hoặc “tiễn biệt”, “hờn” vì xa cách, “sợ” vì phai
tàn sắp sửa. Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vật
thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương,
“vội vàng” của tạo vật. Với Xuân Diệu, hầu như cuộc sống nơi “vườn trần”
đều ít nhiều mang “bi kịch” về thời gian.

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”

Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió “thì thào” vì “hớn”, “chim” bỗng
ngừng hót, ngừng rao vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi
bật nghịch lí giữa mùa xuân - tuổi trẻ và thời gian:

“Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”

Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối. Lo lắng. Chợt tỉnh “mùa chưa
ngả chiều hôm”, nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải
vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi
bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn, vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng
khuâng:

“Chẳng bao giờ/ôi/chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi/mùa chưa ngả chiều hôm”.
Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm “thơ tiếc cảnh”:

- “Xuân xanh chưa dễ hai phen lại
Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên”
(Bài số 3)

- “Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm”
(Bài số 7)

Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong
“Vội vàng” về màu thời gian, về sắc thời gian và tuổi trẻ. Thật yêu đời.
Thật ham sống.

3. Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

- Mở đầu bài thơ là cái Tôi hăm hở: “Tôi muốn tắt nắng đi”. Kết thúc
bài thơ là “TA”, là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong
dòng chảy thời gian: Sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn say
mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả. Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác,
xúc giác, rạo rực: “Ta muốn ôm”, “Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn
thâu…”.

“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cách bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây và cỏ rạng”

Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng
thơ sôi nổi. Nghệ thuật “vắt dòng” với ba từ “và” xuất hiện trong một
dòng thơ làm nổi bật cảm xúc: say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi vườn
trần. Tất cả mùi thơ, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng… đều là khao khát
của thi nhân:

“Cho chếnh choáng mùi thơ, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

III.Tổng kết

Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, ích kỷ trong hưởng thụ. “Vội vàng” thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống
đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ,
biết sống cũng là để yêu; tình yêu lứa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm
ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỷ sau
còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống “vội vàng” như
vậy. 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã làm giàu đẹp cho nền thi
ca Việt Nam hiện đại.

Bài thơ “Vội vàng” cho thấy một cảm quan nghệ thuật “rất
đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp
dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Cách dùng từ rất bạo, cách cấu trúc câu
thơ, đoạn thơ rất tài hoa. “Vội vàng” tiêu biểu nhất cho Thơ mới, thơ lãng
mạn 1932-1941.

«~coppy đường link này gửi đến bạn bè để ũng hộ diễn đàn~»
http://cba4.us.to/t200-topic



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
31/1/2010, 14:33

Thành viên PC

Barack Obama

»~åd¶v¶Îñ~»
 »~åd¶v¶Îñ~»
Tổng số bài gửi : 161
Danh tiếng : 0
gia nhập : 23/11/2009
VNĐ VNĐ : 128287
Đồ khủng

Bài gửi Tiêu đề: Re: Những pài văn phân tích "Vội Vàng"

Một người rất hiểu và rất yêu thơ Xuân Diệu trước Cách Mạng là nhà phê
bình Hoài Thanh đã từng nhận xét rằng “ Nhà thơ ấy đã thể hiện đúng tâm
hồn mình, đúng là mình nhất khi viết ra những dòng thơ diễn tả những
rung động tinh tế, mong manh, mơ hồ, những rung động không dễ gọi tên và
càng không dễ gì nắm bắt “, ví dụ như :
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Những nhận xét ấy chắc hẳn phải có căn cứ, có cơ sở. Tuy nhiên, với phần
lớn độc giả, Xuân Diệu trước hết vẫn là thi sĩ của lòng đam mê nồng
cháy, của tình yêu cuồng si đối với cuộc đời, một con người muốn được
giao cảm, giao hoà hết mình cùng tạo vật. Người đã kêu lên tiếng gọi tha
thiết, giục giã về sự sống gấp để tận hưởng hết những lạc thú của cuộc
đời. Và nếu phải kể một bài thơ tiêu biểu nhất cho một hồn thơ như thế,
thì chắc trong chúng ta không ai không lập tức nhớ ngay đến một bài thơ -
“ Vội vàng “.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại,
Cho hương đừng bay đi.
Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Tôi sung sướng.
Xúc cảm vội vàng dường như đã được thể hiện ở khổ đầu tiên của bài thơ :
khổ thơ năm chữ duy nhất trong bài thơ mà phần lớn là những câu thơ tám
chữ. Thể loại thơ tám chữ gợi cho ta nghĩ đến cách nói vốn có của ca
trù và cách sử dụng của Xuân Diệu cùng thể hiện một nét mới của thơ mới.
Còn cách đặt những câu thơ ngắn trong trường hợp này làm nên giọng điệu
gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một con người đang tràn đầy
cảm xúc. Mặt khác, Xuân Diệu đã đặt ở đầu tiên những câu lẻ hai chữ “
tôi muốn ”, và chủ đề trữ tình lập tức xuất hiện. Nhà thơ thể hiện cái
tôi công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy
thách thức, đi ngược lại với thơ ca trung đại, nơi rất ít dám thể hiện
cái Tôi. Cách nhà thơ công nhiên khiêu khích thẩm mĩ thơ của thời đại
trước, chính là để thể hiện cái tôi trong một khao khát lớn lao, cái tôi
muốn đoạt quyền tạo hoá để làm những việc mà chỉ tạo hoá mới làm được
như “ tắt nắng đi “ và “buộc gió lại “. Nhưng trong cách diễn đạt của
nhà thơ thì “tắt nắng” và “buộc gió” không phải là ý muốn cuối cùng, vì
những câu chẵn của khổ thơ đều bắt đầu bằng một chữ “cho”.
Cho màu đừng nhạt mất,
......
Cho hương đừng bay đi.
Khát vọng ngông cuồng kia cũng xuất phát từ mong muốn giữ lại cái đẹp đẽ
cho sự sống. Những câu thơ gợi cảm giác lo âu rằng cái đẹp sẽ giảm
hương sắc đi, màu nắng sẽ bớt rực rỡ nếu nắng cứ toả, và làn hương kia
sẽ bớt nồng nàn nếu gió cứ bay. Nhưng mong muốn càng trở nên thiết tha
hơn khi nhà thơ dùng đến hai lần chữ “đừng” - chứa đựng một nguyện vọng
thiết tha. Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên nỗi ham sống đến vô
biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và
cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật.
Câu thơ thứ năm đang từ nhịp điệu gấp gáp của những dòng năm chữ, thì
đột ngột đổ tràn ra trong những dòng tám chữ. Một sự chuyển đổi rất đẹp
của bài thơ, làm trải ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân tuyệt
diệu. Trong bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây” rải ra khắp các
dòng thơ, vừa trùng điệp vừa biến hoá. Những câu thơ gợi hình dung về
một con người đang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang trải
ra cuộc đời. Đó không chỉ là một bức tranh xuân, xuân sắc, xuân tình mà
còn là cách để tác giả nói đến cái mê đắm về một mùa xuân của tuổi trẻ,
của tình yêu. Vì vậy, không có một loài vật nào khác ngoài “ong bướm,
yến anh”, bởi nó gợi ra vẻ lả lơi, tình tứ,và “bướm lả ong lơi “ gợi ý
niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, và hơn thế, “của
tình si”, gợi nên sự mê đắm. Bên cạnh đó, chữ “của” trở đi trở lại cùng
với “này đây” như một cặp không thể tách rời. Đó là cách để Xuân Diệu
biểu hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn
quýt lấy nhau, là của nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp
của sự trẻ trung và sức sống. “ Hoa “ nở trên nền “ xanh rì “ của đồng
nội bao la, “lá ” của “ cành tơ ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Cảm giác non
tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phơ phất ” ở
sau. Và như thế, cuộc sống hiện ra trong hình ảnh của một vườn địa đàng,
trong xúc cảm của một niềm vui trần thế. Giá trị nhân văn của những câu
thơ và cả bài thơ chính là ở đó.
Nếu như bốn câu thơ trên có vẻ như đã cân xứng, hoàn chỉnh rồi, thì câu
thơ thứ chín xuất hiện bằng ba chữ “ và này đây ”, như thể một người vẫn
còn chưa thoả, chưa muốn dừng lại, trong cảm xúc đầy tiếc nuối muốn
giăng bày cho hết niềm vui được sống. Nhưng đây không còn là những hình
sắc cụ thể như “lá, hoa, ong bướm “ mà trừu tượng hơn là ánh sáng, niềm
vui, thời gian - những vật thể không hữu hình. Đó cũng là cách để nhà
thơ bộc lộ quan điểm thẩm mĩ mới mẻ và thú vị . Thiên nhiên đã thôi
không còn là chuẩn mực của vẻ đẹp trong quan niệm của Xuân Diệu. Vẻ đẹp
của thiên nhiên chỉ được coi là đẹp khi mang dáng dấp của vẻ đẹp con
người. Ánh sáng đẹp vì gợi ra liên tưởng về “hàng mi” của một đôi mắt
đẹp. Niềm vui đẹp vì gợi ra liên tưởng về một vị thần, đại diện cho con
người. Và xúc cảm thẩm mĩ được nâng lên trong câu thơ về tháng giêng,
gợi nên vẻ đẹp của sự táo bạo, cuồng nhiệt, làm người đọc thơ phải sửng
sốt.
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Mùa xuân hiện ra trong sức gợi cảm kì lạ bởi một vẻ đẹp như đang đợi chờ
, đang sẵn sàng dâng hiến. Vì thế, mùa xuân như sinh ra cho con người
tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người, làm nên một khía cạnh khác
nữa của tinh thần nhân văn của bài thơ. Ở đó, cái quí giá, đẹp đẽ nhất
của con người lại là chính con người. Vì vậy, con người là thực thể cao
nhất, chứ không phải là thiên nhiên, là tôn giáo hay một chuẩn mực đạo
đức nào. Con người trong câu thơ này đã được tôn lên làm chuẩn mực thẩm
mĩ, làm cho người đọc ngạc nhiên, sửng sốt. Tác giả đưa ra ý niệm về một
tháng trẻ trung nhất của một mùa trẻ trung nhất trong năm : “ tháng
giêng “. Nhưng sự bất ngờ lại đến từ chữ thứ ba - “ngon”, điều mà ít ai
có thể ngờ. Và càng không ai có thể nghĩ rằng tác giả lại so sánh với
“cặp môi gần”. Nhưng có được sự so sánh ấy thì thời gian trừu tượng mới
trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc của một tâm hồn
đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm
hữu.
Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho
tình yêu. Và hẳn phải có một tình yêu thật nồng nàn với cuộc đời thì tác
giả mới tạo ra được một hình ảnh lạ kì đến thế.
“Tôi sung sướng”
Những tiếng tất yếu được thốt lên sau tất cả những gì viết ở trên. Nhưng
sau ba chữ ấy lại là một dấu chấm ở giữa câu, khiến cho niềm sung sướng
ấy như bị ngắt lại, chặn lại giữa chừng để trở thành một niềm vui dở
dang, không trọn vẹn. Bởi sau dấu chấm là một chữ “ nhưng “ dự báo một
cảm xúc hoàn toàn mới lạ. Cái ám ảnh của sự vội vàng xuất hiện ở nửa sau
. Nhà thơ dường như không thể tận hưởng hết được mùa xuân vì cái cảm
giác hoài xuân ngay khi mùa xuân chưa hết. Và cảm xúc của nhà thơ đã đi
sang một phía ngược lại, xuất hiện một phản đề :
Nhưng vội vàng một nửa.
Ai đã được nghe hai câu đầu của sự phản đề cũng đều có ấn tượng sâu sắc.

Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.
Sự mới mẻ, táo bạo, sự phát hiện lớn nhất của hai câu thơ lại được nằm ở
hai chữ tưởng như rất bình thường “ nghĩa là “, khiến cho câu thơ mang
dáng dấp của một đẳng thức nghệ thuật. Tác giả đã mạnh bạo đặt một dấu
bằng ở hai vế tưởng như trái ngược nhau :“đang tới” đối với “đang qua”,
“non” nghịch với “già”. Cách nói đầy ấn tượng như thế làm nên sự trôi
mau vô cùng của thời gian. Điều ấy càng có ý nghĩa với một người mà sự
sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được thể hiện với đẳng thức thứ ba :
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Ở đây mùa xuân còn là chỉ mùa của tình yêu, tuổi trẻ. Xúc cảm ấy khơi
nguồn cho một loạt những câu tiếp theo.Nhà thơ như muốn đảo ngược lại
hết những quan niệm thông thường:
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật.
Bây giờ đối tượng của “rộng” không còn là trời đất mà là cá nhân “tôi”,
và cái bé nhỏ không còn là con người, mà lại là “trời đất”. Song điều
đáng nói lại là cái gì đã qua đi thì sẽ không bao giờ trở lại. Nhà thơ
đang nhìn cái nhìn nhân danh cái tôi, cất lên lời oán trách, lo lắng đôi
với tự nhiên và tạo hoá.
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.
Trời đất có nghĩa gì đâu khi tuổi trẻ của tôi không kéo dài. Mùa xuân
tuần hoàn có nghĩa gì đâu khi tuổi xuân của tôi không tuần hoàn. Nhà thơ
đã đem cái khát khao vô cùng của tuổi xuân tạo nên cho bài thơ sự mới
mẻ.
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc.
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi.
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi.
Hình ảnh của gió, của chim quay trở lại, nhưng lại không mang ý nghĩa về
vẻ đẹp nồng nàn của sự sống như ở phần đầu. Những hình ảnh ấy bây giờ
đều nhuốm vẻ luyến tiếc, chia phôi. Gió vẫn đẹp đến mê hồn - “thì thào
trong lá biếc” nhưng vẫn bay đi. Chim vẫn hót như một “khúc cuồng si “
nhưng lại báo trước một sự phai tàn. Những điệp khúc ấy dâng lên thành
một nỗi ám ảnh :
Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa...
Nhưng con người ham sống trong Xuân Diệu không dễ dàng khuất phục sự sắp
đặt của tạo hoá, chính vì vậy cái “tôi” đã tìm ra được phương hướng để
giải quyết một vấn đề không dễ gì giải quyết - đó là cách sống “vội
vàng”. Nếu không thể kéo dài được trường độ sống thì nhà thơ đề nghị
tăng tốc độ và cường độ sống. Vì thế, đề từ của đoạn thơ bắt đầu bằng
một hiệu lệnh của sự giục giã, vội vàng.
Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm.
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và mây, và cỏ rạng;
Cho chuếnh choàng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng.
Cho no nê thanh sắc của trời tươi;
-Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.
Những chữ “muốn” ở đầu bài thơ quay lại, nhưng nhiều hơn, dồn dập hơn,
cuống quýt hơn. Mà bây giờ “muốn” không còn là của “tôi” mà là của “ta”.
Sự vội vàng kích thích con người lớn rộng hơn để có thể ôm choàng cả
cuộc đời. Bằng cách ấy, “ta” được hình dung như một cơ thể của một người
vô cùng thân thiết, mến yêu, một thân thể mang vẻ trẻ trung đến mơn
mởn, đến rạng ngời, nồng thắm, và nhà thơ viết “cỏ rạng, xuân nồng”. Tác
giả dường như muốn được tận hưởng hết cuộc đời đẹp đẽ trong những cử
chỉ mãnh liệt, nồng nàn nhất, mỗi lúc một tăng lên : “ôm - riết - thâu
trong một cái hôn nhiều “.Điều ấy thể hiện một Xuân Diệu muốn hưởng thụ
mùa xuân như một bữa tiệc đời, để được “chuếnh choáng, đã đầy, no nê “.
Và câu thơ cuối được xem như táo bạo nhất trong những câu thơ táo bạo :
Hỡi xuân nồng, ta muốn cắn vào ngươi.
Câu thơ biểu lộ một trạng thái tột đỉnh của niềm yêu mến mùa xuân và
cuộc sống này.
Ý thơ của Xuân Diệu có lẽ cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều một ý thơ của nữ
thi sĩ Pháp, Anna de Nowai. Bởi nhà thơ như cũng muốn để lại dấu răng
của mình trên trái táo thời gian.

«~coppy đường link này gửi đến bạn bè để ũng hộ diễn đàn~»
http://cba4.us.to/t200-topic



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
8/2/2010, 08:02

Thành viên PC

kibu_friendly

»~åd¶v¶Îñ~»
 »~åd¶v¶Îñ~»
Tổng số bài gửi : 92
Danh tiếng : 0
Birthday : 23/12/1993
gia nhập : 21/11/2009
tui~ : 22
đến tùThiên đường gọi tên
VNĐ VNĐ : 1000004270
Đồ khủng

Bài gửi Tiêu đề: Re: Những pài văn phân tích "Vội Vàng"

BÀI THƠ VỘI VÀNG


Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một lẽ sống: sống để yêu và tôn thờ Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc "hăm hở" làm thơ tình! Nhắc đến Xuân Diệu, sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên "Vội vàng", "Đây mùa thu tới", và "Thơ duyên" trong tuyển tập "Thơ thơ" - đứa con đầu lòng mà "ông hoàng thơ tình" đã ban tặng cho nhân gian. Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêu thơ, thơ Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó, để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng, giàu có mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm, tâm của hồn của cái "TÔI" trữ tình Xuân Diệu. Thơ Xuân Diệu như một khúc tình si say đắm ngọt ngào...thật đến từng hơi thở!

Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu. Từ nghìn năm tước, các bậc tiền bối đã có những vần thơ tràn trề về tình yêu đói với mùa xuân và cuộc sống. Nhưng yêu đến mức có những ham muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu, đó là điều thật mới mẻ, thật mãnh liệt. Đặc biệt là cái cách nói của nhà thơ. Trong thơ ca trung đại, nét nổi bật là tính phi ngã, cái tôi trữ tình thường ẩn náu sau những hình tượng thiên nhiên. Trong khi đó, Xuân Diệu bộc lộ ý thức về cái tôi trữ tình thật táo bạo:

"Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất,
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi."

Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới, quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày xưa, thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi mây gió trăng hoa, thì trong quan niệm thơ của Xuân Diệu, cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất, là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất! Thơ lãng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới, khác giới, một niềm khát khao giao cảm với đời, một lòng ham sống mãnh liệt đến tràn đầy. Dường như lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông đã biến cái ham muốn "tắt nắng", "buộc gió" trở nên quá táo bạo, đến độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời, cảnh vật...muốn ôm tất cả, muốn giữ lại tất cả thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. Ước muốn níu giữ thời gian, chặn vòng quay của vũ trụ,đảo ngược quy luật tự nhiên, phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền tạo hóa. Nhưng trong cái phi lí đó, vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn yêu cuộc sống. Với ông, sống là cả một hạnh phúc lớn lao, kỳ diệu, sống là để tận hưởng và tận hiến. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất, một bữa tiệc lớn của trần gian. Nhà thơ đã cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong "Vột vàng" vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khêu gợi.
Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”:

"Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si."

Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất.Nếu thơ xưa, các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang. Trong đoạn thơ, điệp ngữ "này đây" được sử dụng 5 lần kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập, là một sự chỉ trỏ ngơ ngác, ngạc nhiên, lạ lẫm, như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào, nào là hoa của đồng nội xanh “rì”, nào là lá của cành tơ “phơ phất”, của yến anh là khúc tình “si”; thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên, căng ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả. Sự sống ngồn ngột đang phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những "món ăn" có sẵn. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu - cảnh vật trong thơ ông đã trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống. Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu, rất hãnh diện, được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh, đẹp đẽ, là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật, trong đất trời và của muôn loài. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt, biến hoá (3/2/3 và 3/5). Đặc biệt là những hình ảnh, những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể, in đậm phong cách XD: tuần tháng mật, đồng nội xanh rì ... tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say!

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân."

Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời - vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng, tình tứ và lãng mạn đến thế. Với Xuân Diệu, mỗi ngày được sống, được nhìn thấy mặt trời, được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui. Hình ảnh "thần vui hằng gõ cửa" gợi những liên tưởng gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian "tháng giêng" so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể, mang tính nhục cảm. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi, vẹn nguyên, trong sáng, lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa. Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu. Nó dẫn nhà thơ đến những suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lý. Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của dòng chảy thời gian: "tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ lụi tàn ..." Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong dòng thơ "Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa". Về hình thức, đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành 2 câu chứa đựng 2 tâm trạng, 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là "vội vàng một nửa". Thường thì con người ở tuổi trung niên mới tiếc tuổi xuân. Ở đây Xuân Diệu đang xuân, đang quá đỗi trẻ trung mà đã nuối tiếc, đã vội càng "Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân." Vì sao vậy? Bởi với Xuân Diệu:

"Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua.
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hòan,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa.
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,"

Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí, vừa hợp lí, vừa quen lại vừa lạ. Quen vì người xưa đã từng thở dài "xuất thì bất tái lai". Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu là tất cả sự sống của mình. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, thi sĩ bâng khuâng, tiếc nuối ... Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, phải “hờn” vì xa cách, phải “sợ” vì “độ phai tàn sắp sửa”. Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì “hờn”, còn “chim” thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: "Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?" Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩng viễn... Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước đi của thời gian. Con người ấy lúc nào cũng "chẳng bao giờ nữa..." Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
Trong đoạn thơ này, cái giọng điệu sôi nổi, bồng bột, đắm say của Xuân Diệu thời "thơ thơ" thể hiện đầy đủ nhất. Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống hết mình. Con tim ấy của một cái tôi trữ tình từng bộc bạch một cách chân thành. "Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ - mà vạn vật là muôn đá nam châm." Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau, lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc. So với đoạn thơ trên, cách tự xưng của nhân vật trữ tình thay đổi. Phần đầu bài thơ, thi sĩ xưng "tôi" - cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại. Đến đây, thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đã có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với sự sống:"Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa. -
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,"


"Ta muốn ôm.
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"

Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt, thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba chữ "Ta muốn ôm" được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì - sự sống giữa thời tươi vào lòng. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam, ham hố đang dứng giữa trần gian, cuộc đời, dòng đời để ôm cho hết, riết cho chặt, cho say, cho chếnh choáng, thâu cho đã đầy, cho no nê, cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân... Tất thảy đều vồ vập, khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà, giao cảm mãnh liệt với vạn vật, với cuộc đời. Đây quả là một khát khao vô biên, tuyệt đích, rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu. Điệp từ, điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập, đầy bồng bột, đắm say. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào, ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần, mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn, say đắm: ôm, riết, say, thâu. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột, sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo "Và non nước, và cây, và cỏ rạng." Một trạng thái tham lam, ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. Tròn cảm nhận của thi nhân, cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non, đầy hương sắc. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ, lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân. Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:" Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi." Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Trong hồn thơ Xuân Diệu, mùa xuân - tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng, như mời mọc. Trong câu thơ này, hình ảnh xuân hồng với từ "cắn" khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo, diễn tả niềm khao khát giao cảm mãnh liệt, sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng, là ham muốn không có giới hạn.

Với bài thơ "Vội vàng", Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu "Thơ mới". Mới lạ nhưng táo bạo, độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cả các giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. "Vội vàng" đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh vật, yêu mùa xuân và tuổi trẻ... Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu - vội vã với nhịp đập của thời gian.

«~coppy đường link này gửi đến bạn bè để ũng hộ diễn đàn~»
http://cba4.us.to/t200-topic





Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://cba4.us.to
Today at 07:47

Thành viên PC

Sponsored content


Bài gửi Tiêu đề: Re: Những pài văn phân tích "Vội Vàng"


«~coppy đường link này gửi đến bạn bè để ũng hộ diễn đàn~»
http://cba4.us.to/t200-topic



Về Đầu Trang Go down
 

Những pài văn phân tích "Vội Vàng"

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Trả lời và bình luận cho bài viết này
* Viết tiếng Việt có dấu, là tôn trọng người đọc.
* Chia sẻ bài sưu tầm có ghi rõ nguồn, là tôn trọng người viết.
* Thực hiện những điều trên, là tôn trọng chính mình.
-Nếu chèn smilies có vấn đề thì bấm A/a trên phải khung viết bài
Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
● .::☻-‘๑’-(¯`•♥Thế Giới của lủ quỷ 11cba4♥ •´¯)-‘๑’-☻::.● :: -‘๑’-Những Nẻo Đường Tri Thức-‘๑’- :: -‘๑’-Góc Học Tập-‘๑’- :: .::Ngữ văn::.-

Forumotion.com | Nghệ thuật | Phim ảnh | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create your own blog